Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Lãi suất tiền gửi tài khoản lên tới 9%/năm

picture

Theo VPBank, đây là mức lãi suất hấp dẫn nhất trên thị trường hiện nay ở loại tiền gửi này.

Đây là chính sách mà Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) áp dụng cho sản phẩm mới - VP Super.

VP Super là bộ sản phẩm tài khoản trọn gói, bao gồm các tiện ích ngân hàng hiện đại và lợi ích hấp dẫn, sản phẩm đầu tiên trong gói dịch vụ tài chính cá nhân mà VPBank cung cấp trong năm 2011.

Theo giới thiệu của VPBank, thông thường, khách hàng khi đăng ký dịch vụ tài khoản của các ngân hàng sẽ được nhận mức lãi suất không kỳ hạn từ 1,4% - 4%/năm, tùy theo quy định của mỗi ngân hàng. Khác biệt hẳn về mức lãi suất, VP Super là dịch vụ tài khoản dành cho các khách hàng có nguồn tiền luân chuyển qua tài khoán thanh toán và được hưởng mức lãi suất vượt trội, hấp dẫn nhất trên thị trường là 9%.

Bên cạnh đó, khách hàng có thể sử dụng tài khoản VP Suprer thông qua nhiều hình thức giao dịch tiện ích như qua điện tin nhắn điện thoại, qua internet…

Khi đăng ký bộ tài khoản VP Super, khách hàng sẽ được nhận số tài khoản thanh toán; thẻ ATM với hạn mức rút tiền mặt cao hơn so với thẻ ATM hiện tại của VPBank (20 triệu/ lần, 100 triệu/ngày), chuyển tiền qua ATM không hạn chế số tiền, dịch vụ internet banking gói cao cấp và dịch vụ SMS banking.

(Theo Vneconomy)

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

“Việt Nam tổn thất 5.900 tỷ đồng vì virus máy tính”

Năm 2010, trung bình mỗi ngày có hơn 160.000 máy tính bị nhiễm virus.

Trong năm 2010, người dùng máy tính tại Việt Nam thiệt hại khoảng 5.900 tỷ đồng, do tác động của lây nhiễm virus máy tính
Trong năm 2010, người dùng máy tính tại Việt Nam thiệt hại khoảng 5.900 tỷ đồng, do tác động của lây nhiễm virus máy tính, theo kết quả một nghiên cứu độc lập của công ty Bkav thực hiện và công bố.

Mức thiệt hại được tính dựa trên mức thu nhập của người sử dụng máy tính và thời gian công việc của họ bị gián đoạn do các trục trặc gây ra bởi virus máy tính.

Theo đó, bình quân mỗi người sử dụng máy tính tại Việt Nam bị thiệt hại 1.192.000 đồng trong năm 2010. Với ít nhất 5 triệu máy tính đang được sử dụng thường xuyên trên cả nước thì mức thiệt hại do virus gây ra trong 2010 lên tới 5.900 tỷ đồng.

Khảo sát của Bkav cho thấy, tỉ lệ máy tính bị nhiễm virus ở Việt Nam đã giảm nhẹ trong năm 2010, còn 93% máy tính bị nhiễm virus ít nhất một lần. Tình hình này đã được cải thiện so với các năm trước (khoảng 97%) nhưng không nhiều.

Hơn 1/3 số máy tính (36%) bị nhiễm virus ít nhất 1 lần trong 1 tháng. Trong đó, USB tiếp tục là một trong những nguồn lây nhiễm virus phổ biến nhất. Có tới 96% người tham gia khảo sát cho biết, USB của họ đã từng bị nhiễm virus trong năm qua.

Trước đó, trong báo cáo hồi tháng 1, hệ thống giám sát virus của Bkav cho biết, năm 2010, 58,6 triệu lượt máy tính tại Việt Nam bị nhiễm virus. Trung bình hơn 160 nghìn máy tính bị nhiễm virus/ngày, con số báo động về tình hình virus máy tính tại Việt Nam.

Đã có 57.835 dòng virus xuất hiện mới, nhưng virus lây lan nhiều nhất lại là dòng virus cũ W32.Conficker.Worm, từng “nổi đình đám” trên toàn cầu từ cuối năm 2008. Theo Bkav, có tới 6,5 triệu lượt máy tính bị nhiễm Conficker trong năm 2010.

Kết quả khảo sát còn cho hay, nhận thức của người sử dụng về các vấn đề an ninh cũng được cải thiện so với các năm trước. 93% số người tham gia khảo sát cho rằng, để diệt virus hiệu quả thì cần sử dụng phần mềm diệt virus có bản quyền.

Nếu sử dụng phần mềm không có bản quyền, khi xảy ra các sự cố, người dùng sẽ gặp khó khăn vì không thể đề nghị nhà sản xuất phần mềm diệt virus tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật.

Về cách xử lý sự cố với virus máy tính, 49% người sử dụng cho biết họ sẽ nhờ nhà sản xuất phần mềm diệt virus hỗ trợ khi gặp các vấn đề về virus máy tính, trong khi năm 2008 chỉ có 34% người sử dụng dùng phương cách này.

Một tín hiệu đáng mừng là người sử dụng đã cảnh giác trước các đường link được gửi qua chat hoặc email. Kết quả khảo sát cho thấy, tỉ lệ người sử dụng dễ dàng bấm vào các đường link lạ chỉ là 10%.

Có tới 67% người tham gia khảo sát cho biết sẽ xác nhận lại nguồn gốc của đường link nếu đường link đó được gửi từ người quen và sẽ bỏ qua những đường link được gửi từ người lạ. Đây cũng chính là cách xử lý an toàn nhất trong tình huống này.

Tuy nhiên, vẫn có tới 53% người sử dụng chưa quan tâm đúng mức tới việc bảo vệ mật khẩu.. Việc lập mật khẩu mạnh và thay đổi thường xuyên là cách tốt nhất để bảo vệ an ninh của máy tính.

Chưa hết, có tới 63% người sử dụng không thường xuyên hoặc chưa bao giờ thực hiện thao tác khóa máy tính khi rời khỏi bàn làm việc, cho dù thao tác này rất đơn giản, chỉ cần bấm tổ hợp phím “Windows + L”.

Trong báo cáo công bố hồi tháng 1, khi đánh giá về tình hình an ninh mạng năm 2011, Bkav cho rằng, Rootkit sẽ là một xu hướng mới khi đã trở thành công cụ “đại chúng hóa” chứ không còn là “đặc quyền” của một số tin tặc “biết nghề” như trước.

Các dòng virus siêu đa hình sẽ kết hợp nhiều kỹ thuật mới để tạo ra những sự lây lan dai dẳng kéo dài trong nhiều năm. Năm 2010, loại virus này đứng trong top 3 những dòng lây nhiễm nhiều nhất và là nỗi ám ảnh với người dùng máy tính tại Việt Nam.

Cùng sự phổ biến của Windows 7 với khả năng đảm bảo an ninh cao và mọi quyết định thực thi quan trọng trên máy tính sẽ thuộc về người sử dụng, xu hướng virus đánh lừa người sử dụng bằng cảm quan sẽ phát triển mạnh.

Trường hợp các virus giả mạo file dữ liệu (Fake icon) là những biểu hiện đầu tiên và xu hướng này sẽ tiếp tục trong năm 2011.

Virus mang động cơ chính trị-xã hội sẽ xuất hiện nhiều, lợi dụng các trang download phần mềm phổ biến để phát tán, tạo ra mạng botnet, tấn công có chủ đích các mục tiêu định trước, lấy trộm các thông tin bí mật của tổ chức, cá nhân.

Sẽ có nhiều cuộc tấn công, lừa đảo trên điện thoại di động trong năm 2011. Có thể sẽ ghi nhận những cuộc phát tán mã độc đầu tiên trên điện thoại di động, với hình thức tấn công chủ yếu dưới dạng các trojan, ẩn náu và ăn cắp thông tin cá nhân.

(Theo Vneconomy)

Deloitte Việt Nam góp tiếng nói vào đơn giản hoá thủ tục hành chính

Deloitte Việt Nam góp tiếng nói vào

đơn giản hoá thủ tục hành chính

Ông Bùi Tuấn Minh

Nhân dịp Văn phòng Chính phủ tổ chức tổng kết hoạt động của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trao tặng Bằng khen cho 32 cá nhân thuộc Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC) đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác tư vấn CCTTHC, có nhiều đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự thành công Đề án 30 của Thủ tướng Chính phủ, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp online đã có cuộc trò chuyện ngắn với ông Bùi Tuấn Minh – Giám đốc tư vấn Thuế của Deloitte Việt Nam – một trong 32 cá nhân được nhận Bằng khen.

Hải Yến

- Là một trong 32 cá nhân được tặng Bằng khen về những đóng góp tích cực hiệu quả vào sự thành công của đề án 30, cảm nhận của ông về quá trình 3 năm triển khai (2007 – 2010) CC TTHC của Chính phủ Việt Nam?

Phải khẳng định rằng, công tác CCHC nói chung và đơn giản hóa TTHC nói riêng là một công việc rất bức thiết, được xem như là một khâu đột phá, một khâu quan trọng hàng đầu khi VN muốn nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Đề án 30 - CCTTHC giai đoạn 2007-2010 được triển khai gồm 3 giai đoạn chính là thống kê, rà soát và kiến nghị đơn giản hóa, thực thi các Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa. Thực tế đã chứng minh quá trình triển khai CC TTHC của Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành công bước đầu rất đáng khích lệ. Theo tôi có 4 thành tựu lớn mà đề án này mang lại:

Thứ nhất, lần đầu tiên sau 64 năm thành lập nước, chúng ta đã tập hợp, xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC áp dụng tại bốn cấp chính quyền với hơn 5.400 TTHC, trên 9.000 văn bản quy định. Công việc này được thực hiện ở tất cả các cấp chính quyền, ở các ngành, các cấp, đặc biệt có sự tham gia của khối tư nhân để có thể đơn giản hóa TTHC, hủy bỏ những TTHC không cần thiết, cũng như sửa đổi những TTHC còn bất cập…

Thứ hai, đã tập hợp và đưa lên mạng đầy đủ những bộ TTHC cần thiết, nhờ đó tất cả người dân, doanh nghiệp dễ dàng truy cập và có được những thông tin về TTHC, cũng như biết được quyền và nghĩa vụ mà mình phải tuân thủ. Từ đó không cần thiết phải thông qua những công cụ tìm kiếm phức tạp khác hoặc thông qua những mối trung gian.

Phát biểu tại buổi tổng kết hoạt động của Tổ công tác chuyên trách CCTTHC mới đây, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, CC TTHC là tư duy đúng, một khâu đột phá đúng để xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, chống nạn tham nhũng, tiêu cực, làm lành mạnh hóa bộ máy hành chính.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh: “CCTTHC thực chất là cắt bỏ những quyền lực gây nên cản trở, nhũng nhiễu, làm cho bộ máy hành chính không trong sạch. Đây là cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, là công cụ đấu tranh mang tính cách mạng, xét rộng ra không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà quan trọng hơn là có ý nghĩa chính trị, xã hội, góp phần tích cực xây dựng bộ máy trong sạch vững mạnh, đáp ứng lòng tin yêu của người dân, DN”.

Thứ ba, công tác chuẩn bị cho việc ra đời cơ quan mới là Cục Kiểm soát TTHC có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là cơ quan có trách nhiệm đảm bảo thực thi tất cả các Nghị quyết của Chính phủ trong việc đơn giản hóa TTHC đã được phê duyệt đồng thời cũng đảm bảo những TTHC mới được ban hành theo những tiêu chí của Đề án 30, nhằm đạt tính hợp lý, cần thiết, hợp pháp và hiệu quả.

Cuối cùng, thành công lớn nhất của Đề án 30 không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà quan trọng hơn đã góp phần tích cực xây dựng bộ máy hành chính trong sạch, vững mạnh, đáp ứng lòng tin của người dân và DN.

- Với tư cách là một trong những lãnh đạo của công ty kiểm toán và tư vấn Deloitte, trong quá trình tham gia đóng góp ý kiến CC TTHC, điều mà ông cảm thấy khó khăn nhất là gì?

Là thành viên của Tổ tư vấn, tôi và các đồng nghiệp Deloitte đã đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự thành công của Đề án 30, đặc biệt trong lĩnh vực thuế. Theo một báo cáo từ ngân hàng Thế giới (WB), các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn thời gian nhất để đáp ứng các yêu cầu về thuế do thủ tục về thuế quá phức tạp. Bình quân mỗi năm, một DN Việt Nam phải nộp 32 lần thuế các loại và tiêu tốn trung bình 1.050 giờ làm việc, gấp năm lần so với Indonesia. Chính vì vậy, với kinh nghiệm trên 10 năm làm công tác tư vấn thuế cho DN, tôi và các đồng nghiệp rất hiểu những trăn trở và khó khăn của DN. Thông qua Đề án 30, chúng tôi đã đóng góp nhiều sáng kiến rút ngắn thời gian và đơn giản hóa các TTHC trong lĩnh vực thuế, ví dụ qui trình hoàn thuế GTGT; thủ tục áp dụng xin miễn, giảm thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần; hướng dẫn về sử dụng hóa đơn, chứng từ…

Có thể nói, với Đề án 30, Chính phủ đã mở một diễn đàn công khai cho toàn xã hội tham gia bình đẳng để đóng góp ý kiến CC TTHC, trong đó, người dân và DN được xếp ở vị trí trung tâm. Bên cạnh đó, Đề án 30 đã phát huy mạnh mẽ sự đồng thuận của cả xã hội, kêu gọi nhiều thành phần tham gia như khối Nhà nước, khối tư nhân, các chuyên gia, luật sư trong và ngoài nước…Điều này đã góp phần mang lại thành công quan trọng của đề án.

Nói đến khó khăn, đều là khó khăn chung của bất kỳ một công cuộc cải cách hay đổi mới nào. Đó là cách tư duy lối mòn, nếp nghĩ cũ vẫn còn đang tồn tại trong một bộ phận cán bộ trực tiếp phụ trách thực hiện TTTH, thậm chí một bộ phận DN. Một số cán bộ và DN vẫn chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của Đề án và

chưa tham gia tích cực trong quá trình triển khai Đề án. Khó khăn của công cuộc CCTTHC vần còn nằm nhiều ở việc tiếp tục triển khai đề án trong tương lai, làm sao để cho người dân và DN thấy được CCTTHC đã, đang và sẽ đem lại lợi ích thiết thực thông qua việc tiết kiệm thời gian, chi phí và thực tế, chính là giảm rủi ro cho DN.

- Trong thời gian tới, việc cải cách THHC sẽ càng được quan tâm và thực hiện mạnh mẽ hơn, ông sẽ tiếp tục đóng góp vào công cuộc này như thế nào?

Là hội viên của Hiệp hội Tư vấn thuế VN, tôi và các đồng nghiệp của mình sẽ tiếp tục tích cực tham gia và đóng góp ý kiến vào công cuộc CC TCHC về thuế tại Việt Nam. Đồng thời, tôi rất sẵn lòng tham gia các hội thảo, đề án …về CC TCHC về thuế và xây dựng các chính sách thuế mới, góp phần nhỏ vào sự thành công của Đề án 30 trong giai đoạn mới, cũng như sự phát triển nền kinh tế và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

(Theo V.T.A.X)

Nguon: www.vacpa.org.vn

Lãi vay chứng khoán lên tới 23,4% một năm

Lãi suất hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư được các công ty chứng khoán đẩy lên phổ biến trên 20% một năm, có công ty đã đẩy lên 23,4% từ 1/3.

Kể từ 24/2, Công ty chứng khoán VNDIRECT đã thay đổi lãi suất hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư. Theo đó, mức lãi vay mà khách hàng phải trả là 0,056% một ngày, tương đương 20,16% một năm. Tại Công ty chứng khoán Bản Việt, mức lãi suất hỗ trợ vốn là 0,06% một ngày tương đương 21,6% một năm.

Mức lãi vay chứng khoán cũng phổ biến ở mức 20,16-21,6% ở nhiều công ty chứng khoán khác. Nguồn tin từ một công ty chứng khoán có trụ sở tại TP HCM cho biết, cách đây hơn 2 tuần, lãi vay chứng khoán có chiều hướng giảm nhẹ khi ngân hàng có dấu hiệu nới lỏng hơn về lãi suất. Tuy nhiên, những ngày gần đây, tình hình đã bắt đầu căng trở lại khi tín hiệu thắt chặt tiền tệ được công bố rõ ràng và nhất quán bởi nhiều lãnh đạo của Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước.

Lãi suất cao là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu khó bật mạnh trở lại. Ảnh: Hoàng Hà
Lãi suất cao là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu khó bật mạnh trở lại. Ảnh: Hoàng Hà

Kể từ 1/3, Công ty chứng khoán Châu Á Thái Bình Dương (APEC) thậm chí còn đưa lãi suất hỗ trợ vốn lên 0,065% một ngày tương đương 23,4% một năm. Bên cạnh đó, các điều kiện hỗ trợ vốn cũng được siết chặt hơn tùy theo từng đối tượng khách hàng.

Trao đổi với VnExpress.net, phó tổng giám đốc một công ty chứng khoán lớn tại Hà Nội cho biết, từ 4 tháng nay, tổ chức này đã khuyến cáo khách hàng không nên dùng đòn bẩy tài chính vì quá rủi ro. Bên cạnh đó, với những nhà đầu tư đủ điều kiện, mức độ hỗ trợ cũng giảm hơn nhiều so với trước để tránh rủi ro cho cả phía công ty chứng khoán.

Ông Nguyễn Quang Bảo, Phó tổng giám đốc Công ty chứng khoán Bản Việt cho biết, vào thời điểm hiện nay việc hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư gặp khó khăn bởi các nhà băng cũng thắt chặt cho vay chứng khoán. “Không chỉ có lãi suất tăng mà số lượng vốn hỗ trợ từ các ngân hàng cũng giảm”, ông này tiết lộ.

Tuy nhiên, chuyên gia này dự báo, trong vòng 6 tháng tới, mức lãi suất sẽ giảm và thị trường sẽ khởi sắc. “Còn nếu lãi suất tiếp tục cao như hiện nay trong một thời gian dài thì khả năng hồi phục kinh tế nói chung sẽ cực kỳ khó khăn và Chính phủ sẽ không để điều này xảy ra”, ông Bảo nói.

Trong khi đó, thành viên hội đồng quản trị một công ty chứng khoán lớn có trụ sở tại Hà Nội cho rằng, với việc giá trị giao dịch trên thị trường đạt thấp trong phiên hồi phục ngày 25/2 cũng như các phiên trước đó, lãi suất hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư ở mức trên 20% một năm, khả năng thị trường hồi phục mạnh là khó xảy ra.

Vị lãnh dạo này cho biết, lãi vay chứng khoán tăng cao, những nhà đầu tư tích cực giao dịch nhất trước đây sẽ giảm tần suất mua bán bởi chi phí cao. Bên cạnh đó, lãi suất hỗ trợ vốn tăng mạnh cũng làm tăng rủi ro của các khoản đầu tư lướt sóng càng làm cho thị trường thêm trầm lắng.

Ông này không dự báo về một bức tranh khả quan của thị trường trong thời gian 6 tháng tới với lý do: “Phải chờ thêm động thái từ những biện pháp về tiền tệ có thể được đưa ra trong thời gian tới”.


(Theo Vnexpress)

‘Giảm tín dụng, chứng khoán, bất động sản sẽ không bị sốc’

Ngay sau khi ban hành Chỉ thị 01 về các giải pháp tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô chiều 1/3, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã có buổi trao đổi với báo chí nhằm làm rõ một số nội dung của văn bản quan trọng này.

- Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Chỉ thị 01 về việc thực hiện giải pháp tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô… Trong đó, khẳng định sẽ giữ tốc độ tăng tín dụng năm 2011 dưới 20%, giảm tỷ trọng cho vay phi sản xuất… Vậy thực tế việc cho vay của các Ngân hàng thương mại trong 2 tháng đầu năm đã diễn ra như thế nào thưa Thống đốc?

- Theo số liệu chưa đầy đủ thì tính đến ngày 25/2, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,27% so với cuối năm 2010. Trong đó, tăng tín dụng tiền đồng là 0,9%, tín dụng ngoại tệ là 11%. Sở dĩ số tăng ngoại tệ đạt cao như vậy là do điều chỉnh tỷ giá nên dư nợ (hạch toán theo tiền đồng) sẽ bị thay đổi khoảng 7,18%.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định tín dụng cho chứng khoán, bất động sản không giảm về lượng trong năm 2011. Ảnh: QC
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định tín dụng cho chứng khoán, bất động sản không giảm về lượng trong năm 2011. Ảnh: QC

Tính đến cuối tháng 2, Ngân hàng Nhà nước ước tính tổng dư nợ tăng khoảng 3,4%. Đây không phải là mức tăng nhanh nhưng theo yêu cầu giảm tổng cầu của Chính phủ có thể cần điều chỉnh giảm hơn nữa cho phù hợp.

Về tín dụng đối với khu vực phi sản xuất, tính đến cuối tháng 2, tổng dư nợ cho khu vực này là 431.000 tỷ, chiếm 18,7% tổng dư nợ tín dụng. Chủ trương của Chính phủ là giảm dần tốc độ và tỷ trọng cho vay khu vực phi sản xuất. Tư tưởng của Ngân hàng Nhà nước tại Chỉ thị 01 là đưa từ mức 18,7% về 16% vào cuối năm nay. Tuy nhiên, do tăng trưởng tín dụng (dự kiến dưới 20%) nên số 16% này, về thực chất, vẫn ngang bằng với số tuyệt đối hiện nay. Điều này sẽ tránh gây sốc cho các thị trường quan trọng như bất động sản, chứng khoán…

Hiện nay, trong 42 tổ chức tín dụng trong cả nước thì có 18 tổ chức có cơ cấu dư nợ phi sản xuất từ 25% trở xuống. Còn lại 24 tổ chức tín dụng có tỷ kệ này cao hơn. Khi chỉ thị này ban hành, các tổ chức này có thể sẽ khó khăn một chút. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã tính đến điều này và đặt ra lộ trình giảm làm 2 bước: từ nay đến tháng 6 và từ tháng 6 đến cuối năm.

- Thống đốc từng cho biết sẽ đảm bảo tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán năm nay khoảng 15%-16%. Tuy nhiên, trong dịp Tết vừa qua, Ngân hàng Nhà nước cũng đã đưa ra lưu thông lượng tiền lên tới 132.000 tỷ đồng. Số tiền này bây giờ ra sao?

- Ngay từ cuối tháng 10 năm ngoái, tôi đã yêu cầu các vụ chức năng tính toán và lựa chọn kịch bản để đảm bảo cung ứng đủ tiền tệ cho dip Tết. Đúng là lượng cung tiền trong giai đoạn này đã đạt kỷ lục, 132.000 tỷ để đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và phục vụ nhân dân ăn Tết. Tuy nhiên, toàn bộ lượng tiền này đã được tính toán và thu về ngân hàng trung ương ngay sau Tết.

Tính đến hết tháng 2, lượng tiền đưa ra trong Tết đọng lại trong nền kinh tế còn khoảng 27.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, đây là lượng tiền để phục vụ hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước và phù hợp với kế hoạch cung ứng tiền tệ 2 tháng đầu năm.

- Thời gian qua, một số chuyên gia cho rằng để tác động vào tổng cầu, thu tiền về ngân hàng trung ương, có thể thực hiện nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Ông nghĩ sao về đề xuất này?

- Điều hành chính sách tiền tệ có nhiều công cụ như sử dụng lãi suất, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… Chọn lựa giải pháp nào là tùy thuộc vào tình hình cụ thể. Ví dụ như trong điều kiện thanh khoản ngoại tệ đang cân bằng hoặc thiếu hụt một chút mà nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì chỉ có đổ thêm dầu vào lửa. Do đó, chỉ có ngân hàng trung ương mới biết được và có quyền lựa chọn giải pháp nào là phù hợp.

Trong những năm gần đây, ngoại trừ 2007 thanh khoản trên hệ thống ngân hàng lúc nào cũng thừa. Tôi còn nhớ khi mới về làm Thống đốc, phát hành 20.000 tỷ đồng tín phiếu ngân hàng thì chỉ một ngày là xong. Là bởi vì khi đó chúng ra có nguồn vốn gián tiếp (FII) vào rất mạnh.

Nhưng từ đó đến này thì thanh khoản hệ thống toàn cân bằng và thiếu. Thành ra bàn đến việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc vào thời điểm này (theo một số ý kiến có thể lên đến 20%) là điều không tưởng. Chỉ riêng việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với ngoại tệ thì có thể xem xét khi nào thanh khoản hệ thống khá hơn.

- Cũng tại Chỉ thị 01, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ chuyển dần quan hệ cho vay ngoại tệ tại tổ chức tín dụng sang quan hệ mua - bán. Cụ thể việc này sẽ như thế nào thưa Thống đốc?

- Pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ năm 2006 và Quyết định 09/2008 cho phép tổ chức tín dụng cho vay bằng ngoại tệ đã phát huy nhiều hiệu quả trong giai đoạn trước vì có nhiều điểm mở. Quy định mở như vậy có tác dụng tích cực nhằm thu hút ngoại lực (FDI, FII, kiều hối…) vào thời kỳ đó. Tuy nhiên, khi ngoại lực này đủ lớn thì nó tác động ngược trở lại.

Trước thực tế đó, Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu để sửa đổi các quy định nói trên theo hướng chuyển dần quan hệ vay mượn ngoại tệ tại tổ chức tín dụng sang mua bán đối với các đối tượng vay không tái tạo được ngoại tệ. Còn với các đối tượng vay có thể tái tạo được ngoại tệ, hoạt động tín dụng vẫn được xem xét.

Tuy nhiên, cái cơ bản để giải quyết vấn đề này là cơ cấu kinh tế. Phải làm sao đẩy mạnh được xuất khẩu, sao cho Việt Nam có được nguồn ngoại tệ dồi dào, giống như Trung Quốc, thì cung lúc nào cũng sẽ lớn hơn cầu. Thị trường khi đó sẽ trở nên quy củ. Còn thị trường vẫn đang như thế này thì vẫn cần những chính sách để điều chỉnh.

- Tại Nghị quyết số 11 ban hành cuối tháng 2 vừa qua, Chính phủ có yêu cầu Ngân hàng Nhà nước xây dựng và báo cáo đề án quản lý hoạt động kinh doanh vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do. Việc này đã được Ngân hàng Nhà nước thực hiện như thế nào?

- Đây là một chính sách lớn, tác động đến đời sống tâm lý của nhân dân. Chính phủ yêu cầu trình trong quý II/2011 nhưng đến nay, chúng tôi đã dự thảo nghị định này rồi. Việc xây dựng quy định mới là cần thiết bởi với điều kiện lịch sử, thói quen của người dân và việc phát triển thị trường vàng những năm qua thì khung pháp lý trước đây không còn phù hợp.

Cũng có ý kiến cho rằng việc tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng tự do sẽ gây khó cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần hình dung là làm việc gì cũng cần một lộ trình để không gây bất lợi cho nền kinh tế, kể cả quyết lợi cho người dân. Không nên nghĩ là việc xóa bỏ sẽ tạo nhiều biến tướng hay chợ đen… mà nên hình dung việc này như một sự giải phóng năng lực sản xuất, giúp nguồn lực được sử dụng hợp lý, tạo ra của cải cho xã hội.

Thứ hai là một quốc gia không thể có nhiều phương tiện thanh toán. Mà vàng hiện nay đã được nhiều người dân sử dụng để thanh toán, đặc biệt là ở đô thị. Hiện tượng này cần phải được chấm dứt. Đương nhiên, bất cứ một quy định mới nào ra đời thì cũng cần có thời gian để điều chỉnh. Ngân hàng Nhà nước cũng đã tính tới điều này và sẽ xây dựng phương án cụ thể trong nghị định trình lên Chính phủ sắp tới.


(Theo Vnexpress)

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Quy định mới về điều kiện dự thi kiểm toán viên và các nội dung cần tiếp tục bổ sung, sửa đổi về điều kiện dự thi kiểm toán viên

QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐIỀU KIỆN DỰ THI KIỂM TOÁN VIÊN

VÀ CÁC NỘI DUNG CẦN TIẾP TỤC BỔ SUNG, SỬA ĐỔI

VỀ ĐIỀU KIỆN DỰ THI KIỂM TOÁN VIÊN

TS. Hà Thị Ngọc Hà

Phó Vụ trưởng Vụ CĐKT và Kiểm toán

Bộ Tài chính

Hà Thị Ngọc Hà

I. Quy định mới bổ sung về điều kiện dự thi KTV theo Nghị định số 16/2011/NĐ-CP ngày 22/02/2011 của Chính phủ.

Trong quá trình tổ chức thi và cấp chứng chỉ KTV, kế toán viên hành nghề có phát sinh một số bất cập liên quan đến các quy định về điều kiện dự thi và đối tượng dự thi. Cụ thể, theo quy định tại Điều 13 Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập thì một trong những tiêu chuẩn dự thi lấy chứng chỉ kiểm toán viên (KTV) là có bằng cử nhân chuyên ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng hoặc chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán. Do vậy các đối tượng có bằng thạc sĩ, tiến sĩ về kế toán kiểm toán nhưng chưa có bằng cử nhân về các chuyên ngành trên sẽ không được dự thi lấy chứng chỉ KTV.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, ngày 22/02/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2011/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập (sau đây gọi tắt là Nghị định số 16)

Nội dung quy định tại Điều 1, Nghị định số 16 là chỉ sửa đổi, bổ sung điểm b, khoản 1, Điều 13 của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP như sau: “Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng hoặc chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên hoặc thời gian thực tế làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán từ 4 năm trở lên tính từ năm ghi trên bằng tốt nghiệp đại học đến năm đăng ký dự thi”.

Nghị định số 16 có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 4 năm 2011.

II. Các vấn đề cần bổ sung, sửa đổi về điều kiện dự thi KTV và đăng ký hành nghề kiểm toán

Trên thực tế số lượng KTV hiện có so với nhu cầu vẫn còn quá thiếu. Tính đến ngày 31/12/2009, cả nước có gần 10.000 người làm việc trong các doanh nghiệp kiểm toán, nhưng cả nước cũng mới chỉ có 1811 người được cấp chứng chỉ KTV. Trong đó chỉ có 1117 KTV đăng ký hành nghề trong 156 doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện đã hành nghề, số còn lại gần 700 KTV có chứng chỉ nhưng không hành nghề kiểm toán mà làm trong các ngành nghề khác như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán...Do số lượng doanh nghiệp kiểm toán trong những năm qua tăng nhanh nhưng số lượng KTV tăng không đáng kể nên có sự dàn trải số lượng KTV giữa các công ty. Do số lượng KTV còn quá thiếu nên hàng năm thường xuyên có trên 10 công ty đã thành lập nhưng không đủ điều kiện hoạt động kiểm toán do không đủ tối thiểu 3 KTV theo quy định hiện hành. Số lượng KTV hiện có so với nhu cầu vẫn còn quá thiếu như một phần nêu trên là do các quy định về điều kiện dự thi lấy chứng chỉ KTV chưa phù hợp, cần được nghiên cứu bổ sung, sửa đổi cho phù hợp để đáp ứng yêu cầu thực tế và hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể như sau:

1. Quy định hiện hành và những hạn chế về điều kiện dự thi lấy chứng chỉ KTV và điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán

Theo quy định hiện hành (Quyết định 94/2007/QĐ-BTC ngày 16/11/2007 ban hành Quy chế thi và cấp Chứng chỉ KTV và Chứng chỉ hành nghề kế toán và Thông tư số 171/2009/TT-BTC ngày 24/8/2009 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi và cấp chứng chỉ KTV và Chứng chỉ hành nghề kế toán), người dự thi lấy Chứng chỉ KTV phải có đủ các điều kiện về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác sau đây: a) Có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành Tài chính, Kế toán, Kiểm toán; hoặc bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế, quản trị doanh nghiệp, quản trị kinh doanh có tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học: Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích tài chính, Thuế từ 10% tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học trở lên; b) Thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên tính từ năm ghi trên bằng tốt nghiệp đại học đến năm đăng ký dự thi; hoặc thời gian thực tế làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán từ 4 năm trở lên tính từ năm ghi trên bằng tốt nghiệp đại học đến năm đăng ký dự thi.

Quy định hiện hành trên thực tế qua 16 kỳ thi, cấp chứng chỉ KTV và điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán, ngoài tồn tại đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 16 nêu trên còn bộc lộ các bất hợp lý như:

Thứ nhất, nhiều đối tượng không đủ điều kiện dự thi mặc dù có tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học về Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích tài chính, Thuế trên 10% tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học trở lên nhưng do chuyên ngành học ghi trên bằng tốt nghiệp đại học của các đối tượng này không thuộc chuyên ngành kinh tế, quản trị doanh nghiệp, quản trị kinh doanh. Ví dụ: Các đối tượng học thuộc các chuyên ngành như tài vụ thương mại, công nghiệp, xây dựng cơ bản,.. hay thuế, thu quốc doanh - là các chuyên ngành đào tạo khá phổ biến của các trường đại học kinh tế trong thời kỳ trước năm 1985 đều không được dự thi. Đồng thời các đối tượng có chuyên ngành học là kinh doanh quốc tế, kinh tế đầu tư, kinh tế đối ngoại, kinh tế quốc tế...không được dự thi. Các đối tượng không đủ điều kiện dự thi KTV như đã nêu trên đều được phần lớn các công ty kiểm toán tuyển dụng do có trình độ tốt và có nhiều đóng góp cho ngành kiểm toán. Các đối tượng trên muốn dự thi KTV muốn đăng ký hành nghề phải tham dự học và thi để lấy các chứng chỉ KTV do các Hội nghề nghiệp quốc tế về kế toán, kiểm toán được phép hoạt động tại Việt Nam như Hiệp Hội kế toán công chứng Anh (ACCA), Hội kế toán công chứng Australia (CPAA) tổ chức, sau đó tham dự kỳ thi sát hạch, đạt yêu cầu mới được cấp chứng chỉ KTV.

Thứ hai, về điều kiện kinh nghiệm công tác thì người muốn dự thi để được cấp chứng chỉ KTV phải có ít nhất 4 năm thực tế làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán hoặc 5 năm làm kế toán, tài chính trở lên tính từ năm ghi trên bằng tốt nghiệp đại học đến năm đăng ký dự thi. Theo quy định hiện hành người dự thi có chứng chỉ KTV sẽ được đăng ký hành nghề kiểm toán ngay, từ đó dẫn đến tình trạng người có chứng chỉ KTV nhưng chưa có thực tế kiểm toán (do mới chỉ làm công tác tài chính, kế toán) đã được hành nghề và ký báo cáo kiểm toán sẽ không đảm bảo chất lượng kiểm toán. Ngược lại người dự thi KTV đã có ít nhất 4 năm thực tế làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán, đạt yêu cầu sau 3 năm dự thi theo quy định, được cấp chứng chỉ KTV mới được đăng ký hành nghề và ký báo cáo kiểm toán là quá lâu nên chưa đáp ứng được nhu cầu kiểm toán độc lập là rất lớn trong khi số lượng KTV còn hạn chế.

2. Thông lệ quốc tế về thi KTV và điều kiện được đăng ký hành nghề kiểm toán

2.1) Các Hội nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPAA:

Các Hội nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPAA… có chức năng tổ chức các khoá đào tạo, tổ chức thi và cấp giấy chứng nhận đạt kỳ thi cho các cá nhân đạt kết quả thi do Hội nghề nghiệp tổ chức ở tất cả các nước mà các Hội nghề nghiệp quốc tế có văn phòng đại diện. Điều kiện dự thi và nội dung thi của từng Hội nghề nghiệp cũng khác nhau: (1) Với ACCA người tốt nghiệp phổ thông trung học là được tham gia học và thi theo 3 giai đoạn trong 10 năm gồm: Nguyên lý, kiến thức cơ bản và nâng cao. Những người tốt nghiệp đại học có các môn học mà ACCA yêu cầu dự thi sẽ được xét miễn giảm. (2) Với CPAA người tốt nghiệp đại học mới được tham gia học và thi với số môn học và thi ít hơn. Các cá nhân đạt kết quả thi do Hội nghề nghiệp tổ chức chỉ được tham gia là hội viên liên kết. Các Hội nghề nghiệp quốc tế cấp chứng chỉ Hội viên chính thức cho các đối tượng sau khi đạt kỳ thi và đủ tiêu chuẩn gia nhập hội viên khi có đủ số năm kinh nghiệm (từ 3-5 năm) thực tế làm kiểm toán hoặc làm trong các lĩnh vực, ngành nghề theo danh mục do các Hội công nhận. Hội nghề nghiệp quốc tế với chức năng đào tạo, xác nhận năng lực, cung cấp thông tin và quản lý đạo đức nghề nghiệp cho những người hành nghề kế toán, kiểm toán đã làm cho uy tín, danh tiếng của những người hành nghề kế toán, kiểm toán ngày càng được nâng cao, được không chỉ từng nước mà nhiều nước thừa nhận như ACCA hiện có 131.000 Hội viên, 80 văn phòng đại diện trên 64 nước trên thế giới, đã có văn phòng và 300 hội viên ở Việt Nam; CPAA hiện có 129.000 Hội viên, 10 văn phòng đại diện trên thế giới, có văn phòng và 180 Hội viên ở Việt Nam.

2.2) Tổ chức thi, cấp chứng chỉ hành nghề kiểm toán và việc thừa nhận chứng chỉ hội viên của các Hội nghề nghiệp quốc tế của các nước:

- Về tổ chức thi: Việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề kiểm toán có sự khác nhau giữa các nước theo 2 cách thức triển khai: Giao cho Hội nghề nghiệp thực hiện hoặc Cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện có sự phối hợp của Hội nghề nghiệp.

- Về điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán: Phần lớn các nước quy định các cá nhân được đăng ký hành nghề kiểm toán khi có đủ điều kiện là hội viên chính thức của các Hội nghề nghiệp được Nhà nước thừa nhận hoặc khi có đủ các điều kiện sau: (i) có bằng đại học kinh tế hoặc luật được Nhà nước chính thức công nhận; (ii) đạt kỳ thi KTV; (iii) Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm công tác về kế toán, kiểm toán (hoặc trong ngành kinh tế hoặc luật). Thông lệ chung ở các nước, chỉ những người đạt kỳ thi KTV, là hội viên Hội nghề nghiệp và có đủ 3-5 năm kinh nghiệm thực tế làm kiểm toán hoặc các ngành được các Hội nghề nghiệp thừa nhận mới đủ điều kiện được đăng ký và được cấp chứng chỉ hành nghề kiểm toán. Quy định về điều kiện phải có đủ 3-5 năm kinh nghiệm thực tế ở từng quốc gia là khác nhau, có thể là trước hoặc sau khi đã thi đạt kỳ thi KTV.

- Việc thừa nhận chứng chỉ Hội viên của các Hội nghề nghiệp quốc tế có sự khác nhau giữa các quốc gia, cụ thể: (i) Nhiều nước cho phép hội viên chính thức của các Hội nghề nghiệp quốc tế được phép hành nghề với điều kiện bắt buộc đồng thời phải là Hội viên của Hội nghề nghiệp của nước đó. Ví dụ ở Vương quốc Anh có 4 Hội nghề nghiệp quốc tế (The Association of Chartered Certified Accountants (ACCA), The Institute of Chartered Accountants in England and Wales (ICAEW), The Institute of Chartered Accountants of Scotland, The chartered Institute of Management Accountants (CIMA)). Hội viên của các Hội nghề nghiệp ở Vương quốc Anh không chỉ được phép hành nghề ở Vương quốc Anh mà còn được phép hành nghề ở nhiều nước Châu Âu và một số nước trước đây là thuộc địa của Anh, như ở Châu Á có Singapore, Malaixia... do được luật pháp các nước thừa nhận với điều kiện bắt buộc phải là Hội viên của Hội nghề nghiệp của nước đó; (ii) Nhiều nước ở Châu Á, Châu Đại dương…quy định Hội viên của các Hội nghề nghiệp quốc tế muốn hành nghề kiểm toán ở nước mình phải tham dự kỳ thi sát hạch (thi chuyển đổi) hoặc thi đầy đủ các môn như người dự thi KTV của nước sở tại. Luật pháp ở một số nước không phổ biến nói tiếng Anh như Nhật Bản, Trung quốc, Thái lan, Ba lan, Lào… quy định người nước ngoài muốn hành nghề kiểm toán ở các nước này phải đạt kỳ thi KTV và phải thành thạo kỹ năng nói và viết ngôn ngữ của nước sở tại.

3. Các nội dung liên quan đến điều kiện dự thi KTV và điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán cần được nghiên cứu để quy định trong Dự thảo Luật Kiểm toán độc lập

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nghề kiểm toán độc lập ở Việt Nam sẽ có được nhiều lợi ích lớn nếu người hành nghề kiểm toán của Việt Nam được các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế công nhận. Các lợi ích này bao gồm: Chất lượng kiểm toán và độ tin cậy đối với kết quả kiểm toán sẽ được nâng cao, cơ hội cho các KTV Việt Nam có thể hành nghề tại các nước khác đồng thời năng lực của KTV Việt Nam sẽ không ngừng được nâng cao. Để phù hợp với thông lệ quốc tế, khắc phục hạn chế của các quy định hiện hành về điều kiện dự thi KTV và điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán, đồng thời để mở rộng đối tượng được dự thi KTV nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm toán ngày càng tăng và đạt được các lợi ích như đã nêu trên, Việt Nam cần nghiên cứu để quy định trong Luật KTĐL các nội dung liên quan đến điều kiện dự thi KTV và điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán cụ thể như sau:

Thứ nhất, về điều kiện dự thi KTV: Dự thảo Luật nên nghiên cứu, xem xét để quy định các cá nhân có đủ 2 điều kiện sau sẽ được tham dự kỳ thi KTV: (1) Có đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; (2) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán và các chuyên ngành khác theo quy định của Bộ Tài chính.

Theo định hướng trên các cá nhân có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán sẽ được tham dự kỳ thi KTV; các cá nhân có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc tất cả các chuyên ngành khác với các chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán có tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học phù hợp với các chuyên đề dự thi KTV (như tài chính, kế toán, kiểm toán, phân tích tài chính, thuế, luật kinh tế) từ 5-10% tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học trở lên đều được tham dự kỳ thi KTV. Để mở rộng đối tượng được dự thi KTV, tỷ lệ % tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học trên tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học trở lên do Bộ Tài chính quy định cho phù hợp với từng thời kỳ.

Đồng thời với các ngành học không có đủ % các môn học phù hợp với chuyên đề dự thi thì cho phép được tham dự các khóa học chuyển đổi/ hỗ trợ các chuyên đề dự thi cho đủ điều kiện dự thi.

Với quy định trên, đối tượng tham gia thi KTV sẽ tăng mạnh do (1) người có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc tất cả các chuyên ngành khác như kinh doanh quốc tế, kinh tế đầu tư, kinh tế đối ngoại, kinh tế quốc tế, quản trị doanh nghiệp, quản trị kinh doanh, luật kinh tế, thẩm định giá…có tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học phù hợp với các chuyên đề dự thi KTV có thể từ 5-10% tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học trở lên được quy định cho phù hợp với từng thời kỳ đều được tham dự kỳ thi KTV; (2) người tốt nghiệp đại học được tham dự kỳ thi KTV ngay mà không cần phải có thời gian thực tế làm công tác tài chính, kế toán, kiểm toán. Theo đó sinh viên sẽ có định hướng nghề nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp đại học nếu muốn dự thi KTV để hành nghề kiểm toán. Khả năng đạt kỳ thi KTV sẽ cao hơn nhiều so với yêu cầu phải có thời gian thực tế làm công tác tài chính, kế toán, kiểm toán như quy định hiện hành. Trong điều kiện chuyên ngành học ghi trên bằng tốt nghiệp đại học còn nhiều khác biệt giữa các cơ sở đào tạo nên quy định trên sẽ rất thuận lợi, rõ ràng cho Hội đồng thi xét duyệt hồ sơ đủ điều kiện dự thi và những cá nhân xem xét điều kiện dự thi khi có nhu cầu thi KTV.

Thứ hai, về điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán: Dự thảo Luật nên nghiên cứu, xem xét để quy định các cá nhân có chứng chỉ KTV ngoài các điều kiện theo quy định hiện hành, cần bổ sung 2 quy định: (1) Có thời gian thực tế làm kiểm toán từ đủ 36 tháng trở lên ở doanh nghiệp kiểm toán hoặc tổ chức kiểm toán khác tại Việt Nam; (2) Là hội viên của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán của Việt Nam.

Với quy định trên, để được đăng ký hành nghề kiểm toán và ký báo cáo kiểm toán thì yêu cầu người đạt kỳ thi KTV phải có 3 năm thực tế làm kiểm toán (tại các doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ…) để tích luỹ kinh nghiệm, hoàn thiện kỹ năng thực tế để đảm bảo chất lượng kiểm toán. Việc mở rộng đối tượng được dự thi KTV sẽ tăng đáng kể số lượng KTV nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm toán ngày càng tăng đồng thời quy định người đạt kỳ thi KTV phải làm kiểm toán thực tế 3 năm (Trước hoặc sau khi đạt kỳ thi KTV) sẽ góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán, khắc phục được tình trạng chất lượng kiểm toán chưa tốt do các KTV đã đạt kỳ thi KTV mà chưa hề làm thực tế kiểm toán thực hiện. Để thừa nhận chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán của các tổ chức quốc tế và các nước, Dự thảo Luật nên quy định: Người có chứng chỉ nước ngoài được Bộ Tài chính thừa nhận (bao gồm người có chứng chỉ hội viên của các Hội nghề nghiệp quốc tế được Việt Nam thừa nhận, đủ điều kiện hành nghề kiểm toán ở các nước) đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán Việt Nam và là hội viên của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán của Việt Nam sẽ được đăng ký hành nghề kiểm toán.

Về điều kiện KTV phải là hội viên của tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán mới được đăng ký hành nghề cũng còn ý kiến khác nhau nhưng trên thực tế kinh nghiệm của hầu hết các nước trên thế giới: Khi KTV đủ điều kiện là hội viên của tổ chức nghề nghiệp kiểm toán được Nhà nước thừa nhận thì chính là đủ điều kiện kiểm toán. Vì rằng, là hội viên, KTV sẽ được Hội đào tạo, cập nhật kiến thức thường xuyên hàng năm; được Hội tư vấn và cung cấp thông tin; được Hội kiểm tra chất lượng dịch vụ, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp… giúp Hội viên bảo vệ uy tín, danh tiếng, giúp chất lượng KTV, chất lượng dịch vụ tốt hơn. Do đó, Việt Nam cũng cần học tập và làm theo kinh nghiệm của quốc tế. Hội quản lý, giám sát hội viên chính là giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ hơn đội ngũ KTV ngày càng đông đảo mà Nhà nước không có điều kiện quản lý như khi còn ít hiện nay.

Cùng với việc đổi mới, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về điều kiện dự thi KTV và điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán như đã nêu trên, để xác lập vị thế quan trọng của nghề nghiệp kiểm toán, nâng cao giá trị ở tầm quốc gia và để đạt được sự công nhận của cộng đồng quốc tế, theo lộ trình phù hợp Việt Nam cần đổi mới toàn diện nội dung chương trình học ôn, thi, ra đề, tổ chức thi và cấp chứng chỉ KTV. Trong đó quan trọng nhất là đổi mới nội dung, chương trình học, ôn thi phải đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế, mang tính thực tiễn và sát với các tình huống thực tế nghề nghiệp hơn. Quá trình xây dựng nội dung, chương trình học, ôn thi KTV cần xem xét tới khả năng kết nối chương trình đào tạo, thi KTV với việc đào tạo sinh viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán. Căn cứ vào chương trình đào tạo chuyên sâu về kế toán, kiểm toán ở các trường đại học để nghiên cứu điều kiện, cách thức và công việc phải làm để hướng tới việc kết nối đào tạo, thi KTV với việc đào tạo ở bậc đại học chuyên ngành kế toán, kiểm toán./.

Nguon: www.vacpa.org.vn

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Không được 'ngoại trừ' những nội dung trọng yếu khi kiểm toán

KHÔNG ĐƯỢC "NGOẠI TRỪ"

NHỮNG NỘI DUNG TRỌNG YẾU KHI KIỂM TOÁN

Ảnh minh họa

Sau nhiều phiên thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tại phiên họp sáng 17/02 quyết định bỏ quy định "giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty TNHH kiểm toán buộc phải góp tối thiểu 10% vốn điều lệ" như nội dung dự thảo Luật Kiểm toán độc lập, do cơ quan soạn thảo trình trước đó.

Bảo Cầm

Tại kỳ họp trước, Thường trực UB Kinh tế cũng bày tỏ quan điểm không tán thành quy định trên với lý do: theo Luật Doanh nghiệp (DN), chủ tịch hội đồng thành viên của DN TNHH 2 thành viên trở lên có thể thuê tuyển chức danh giám đốc hoặc tổng giám đốc để quản lý, điều hành DN. Vì vậy, yêu cầu giám đốc hoặc tổng giám đốc DN TNHH phải góp tối thiểu 10% vốn điều lệ là không phù hợp.

Một nội dung khác vừa được bổ sung trong dự luật này là luật phải quy định rõ những nội dung trọng yếu của báo cáo kiểm toán tài chính của DN không được ngoại trừ khi xác định trách nhiệm của cơ quan kiểm toán. Theo Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền, quy định trên xuất phát từ thực tế "chất lượng báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính ở không ít DN thời gian qua còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do đơn vị kiểm toán vì nhiều lý do đã không đi sâu xem xét, đánh giá một hay một số nội dung trọng yếu của báo cáo tài chính. Do vậy, báo cáo tài chính không phản ánh được một cách đầy đủ và xác thực. Thông thường, những trường hợp như vậy, các đơn vị kiểm toán đưa ra những yếu tố ngoại trừ để không chịu trách nhiệm về tính chính xác của báo cáo kiểm toán và qua đó không chịu trách nhiệm về pháp lý".

Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quy định nội dung trọng yếu không được ngoại trừ khi lập báo cáo kiểm toán tài chính theo quy định trên của dự luật Kiểm toán độc lập.

Theo kế hoạc Luật Kiểm toán độc lập sẽ được biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội, diễn ra vào tháng 3 tới.

(Theo Báo TN - 18/2/2011)

BBT: Trong quá trình tham gia thảo luận dự thảo Luật Kiểm toán độc lập, VACPA cũng đã nhiều lần có ý kiến: "Quy định về việc không được "ngoại trừ" những nội dung trọng yếu trong khi kiểm toán" là không phù hợp với chuẩn mực kiểm toán quốc tế, cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế phổ biến.

Theo VACPA, dù là chủ quan của Nhà quản lý hay quyền lực của cơ quan ban hành văn bản pháp luật thì cũng chỉ có thể cho doanh nghiệp, tổ chức được kiểm toán phải bảo đảm các điều kiện để hạn chế việc tổ chức kiểm toán đưa ra ý kiến ngoại trừ các nội dung trọng yếu - việc này không thể quy định thuộc trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán thực hiện. Tuy nhiên kiểm toán viên và công ty kiểm toán cũng cần thấy rõ trách nhiệm của mình trước thực tế các năm qua đã làm cho nhà đầu tư có ấn tượng xấu về việc quá nhiều báo cáo có ý kiến ngoại trừ, mà ngoại trừ rất lớn đến mức báo cáo kiểm toán không còn giá trị nữa (ví dụ: ngoại trừ số dư hàng tồn kho có giá trị đến 70-80% tổng tài sản trong báo cáo tài chính) mà không thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung, cũng không đưa ra mức độ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của các điểm ngoại trừ...

Các kiểm toán viên, bạn đọc và công ty kiểm toán cần có ý kiến về vấn đề này trên diễn đàn giúp đại biểu Quốc hội có cơ sở thông qua Luật Kiểm toán độc lập dự kiến trong tháng 3/2011 tới.


Nguồn: www.vacpa.org.vn

Giá xăng lên 19.300 đồng từ 10h sáng

Bộ Tài chính sáng nay quyết định cho phép doanh nghiệp được tăng giá bán mỗi lít xăng A92 từ 16.400 đồng lên 19.300 đồng, vượt cả kỷ lục năm 2008. Một số người biết tin sớm đang kéo đến các cây xăng để mua.

Lần giá xăng lên mức 19.000 đồng năm 2008, khi giá thế giới vọt ngưỡng kỷ lục 147 USD một thùng và trong nước lạm phát leo thang. Ảnh: Hoàng Hà
Lần giá xăng lên mức 19.000 đồng năm 2008, khi giá thế giới vọt ngưỡng kỷ lục 147 USD một thùng và trong nước lạm phát leo thang. Ảnh: Hoàng Hà

Ngoài giá xăng tăng 2.900 đồng một lít, dầu diezel tăng 3.550 đồng một lít lên 18.300 đồng. Dầu hỏa tăng từ 15.100 lên 18.200 đồng. Còn dầu mazuts tăng từ 12.690 đồng lên 14.800 đồng mỗi kg.

Quyết định tăng giá có hiệu lực thi hành ngay 10h sáng nay.

Tại Hà Nội, một số người dân, đặc biệt là các tài xế taxi đã biết được tin giá tăng nên vội vã đến các cây xăng đổ đầy bình. Nhân viên ở cây xăng cũng đã được thông báo giá tăng và bán hàng bình thường cho khách. Trong khi đó, nhiều người đi xe máy ngỡ ngàng với thông tin này.

Tại cây xăng số 1 Láng Hạ lúc 9h15 sáng nay, có người còn mang theo can nhựa đi mua tích trữ, thậm chí mua vài can.

Giá xăng được chấp thuận tăng sau nhiều tháng doanh nghiệp xăng dầu chịu lỗ vì giá thế giới lên mà trong nước phải giữ nguyên. Lần đầu tiên trong vòng hai năm rưỡi, hôm qua, giá dầu thô tại New York lên 100 USD mỗi thùng vì những bất ổn chính trị tại Libya. Còn dầu Brent biển Bắc tại London cũng vọt lên 111 USD một thùng dầu.

Tại thị trường trong nước, nhiều ngày qua, các doanh nghiệp nhập khẩu đã chịu cảnh lỗ nặng khi mỗi lít xăng dầu cơ sở chênh với giá bán tới vài nghìn đồng. Từ tháng 12/2010 đến nay, Bộ Tài chính đã liên tục áp dụng các biện pháp giảm thuế nhập khẩu, bù lỗ bằng quỹ bình ổn. Thế nhưng, tính đến ngày 23/2, số lỗ mỗi lít xăng theo tính toán của doanh nghiệp vào khoảng 3.000 đồng. Còn mỗi lít dầu mức lỗ xấp xỉ 4.000 đồng.

Việc tăng giá bán lẻ lần này được Bộ Tài chính nhìn nhận là không thể đừng vì thuế nhập khẩu đã giảm xuống mức thấp nhất 0%, quỹ bình ổn giá cũng dốc đến đồng cuối cùng. Trong khi đó, nạn đầu cơ, găm hàng chờ tăng giá đã xuất hiện khắp nơi, gây tâm lý bất an cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, do mức chênh lệch giá bán xăng dầu của VN với thế giới khiến cho nạn xuất lậu cũng diễn biến phức tạp tại các khu vực vùng biên.

Hôm qua, Tổng cục Thống kê công bố giá tiêu dùng tháng 2 tăng 2,09%, cao nhất trong vòng 2 năm rưỡi trở lại đây.

21/7/2008, giá xăng tăng 30% từ 14.500 đồng một lít lên 19.000 đồng một lít. Khi đó, giá dầu thô thế giới vào khoảng 130 USD một thùng, giảm so với mức kỷ lục 147,27 USD một thùng 10 ngày trước đó.

(Theo Vnexpress)

Không thể cắt 'Ý kiến ngoại trừ' trong báo cáo kiểm toán

KHÔNG THỂ CẮT "Ý KIẾN NGOẠI TRỪ"

TRONG BÁO CÁO KIỂM TOÁN

Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa họp cho ý kiến xung quanh dự thảo Luật Kiểm toán độc lập. Một trong nhiều nội dung được bổ sung vào Dự thảo là phải quy định rõ những nội dung trọng yếu của báo cáo tài chính (BCTC) kiểm toán của DN không được ngoại trừ khi xác định trách nhiệm của cơ quan kiểm toán. Điều này đang gây ra những ý kiến bức xúc từ các công ty kiểm toán (CTKT) và bản thân DN niêm yết.

Thanh Đoàn

Ông Bùi Văn Mai, Tổng thư ký Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cho biết, hiện có khoảng 60 - 65% BCTC được chấp thuận toàn phần, 1 - 2% CTKT đưa ra ý kiến không chấp nhận hoặc từ chối đưa ra ý kiến, phần còn lại (gần 40%) đưa ra ý kiến ngoại trừ. Trong ý kiến ngoại trừ có nhiều nội dung trọng yếu.

Theo ông Mai có nhiều nguyên nhân khiến CTKT phải ngoại trừ khi thực hiện kiểm toán BCTC. Trước hết là CTKT bị giới hạn về thời gian kiểm toán (không đủ thời gian kiểm toán nên ngoại trừ). Khi gặp vấn đề khúc mắc, kiểm toán viên (KTV) yêu cầu DN cung cấp thông tin, nhưng DN không cộng tác thì CTKT phải ngoại trừ. Ba là quan điểm giữa KTV và lãnh đạo DN không đồng nhất về một vấn đề thì KTV cũng phải ngoại trừ.

Theo ghi nhận của ĐTCK, nhiều NĐT và thành viên thị trường cho rằng, với quy định CTKT không được ngoại trừ một số nội dung trọng yếu sẽ làm cho chất lượng BCTC tốt hơn. Việc KTV đưa ra ý kiến ngoại trừ dễ dàng hơn ý kiến chấp thuận và đỡ tốn thời gian công sức kiểm tra, đối chứng... Tuy nhiên, theo nhiều CTKT, định lượng những nội dung nào là trọng yếu trong BCTC của DN mà CTKT không được ngoại trừ là việc không đơn giản. Đó là chưa kể chuẩn mực kiểm toán hiện nay và thông lệ quốc tế đều cho phép KTV được phép ngoại trừ trong BCTC kiểm toán.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc CTKT AASC cho rằng, nếu quy định như vậy sẽ không thể làm được vì hai lý do. Một là, chuẩn mực kiểm toán hiện hành theo chuẩn quốc tế, nếu Việt Nam thay đổi thì tự tách ra trong khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Hai là, hiện có quá nhiều điểm khác nhau giữa thực tiễn và quy định (những vấn đề phát sinh từ thực tiễn hoạt động của DN nhưng chưa được quy định, khi kiểm toán DN phải ngoại trừ), khác nhau ngay tại các quy định về cùng một vấn đề của cơ quan nhà nước, khác nhau về quan điểm giữa CTKT và DN được kiểm toán và CTKT buộc phải đưa ra ý kiến ngoại trừ trước mỗi vấn đề đó. Trong trường hợp Luật quy định như vậy thì cũng không thể liệt kê những vấn đề được xem là trọng yếu và không trọng yếu để CTKT không được ngoại trừ.

Ông Phan Xuân Vạn, Tổng giám đốc CTKT AAC nói một cách hình ảnh: "Khi kiểm toán, CTKT như bác sĩ và DN là bệnh nhân. Bác sĩ không thể nói DN này khỏe mạnh khi họ mang nhiều bệnh ở trong người. Kiểm toán không phải là người quyết định mọi thứ, mà chỉ đưa ra ý kiến độc lập về chuyên môn. Khi sử dụng BCTC, NĐT, cơ quan quản lý cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng (nội dung ngoại trừ, nguyên nhân dẫn đến ý kiến ngoại trừ đó, đánh giá tác động của ý kiến ngoại trừ đến BCTC của DN)". Theo ông Vạn, từ thực tiễn hoạt động kiểm toán kiểm toán có rất nhiều vấn đề phát sinh, nếu Luật quy định CTKT không được ngoại trừ (ngay cả những vấn đề không trọng yếu) thì không thể ra được báo cáo kiểm toán.

Dưới góc độ DN niêm yết, ông Nguyễn Trung Kiên, Kế toán trưởng CTCP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong nhận xét, hiện nay, số lượng CTKT hạn chế và số DN có nhu cầu kiểm toán lớn nên việc các KTV không có thời gian, cơ hội tham gia vào các sự kiện của DN là điều dễ hiểu. Trong trường hợp này thì KTV có thể đưa ra ý kiến ngoại trừ. Tuy nhiên, những nội dung trọng yếu, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của DN thì CTKT phải sử dụng các biện pháp để khẳng định vấn đề đó.

Ông Lê Văn Điệp, Phó Tổng giám đốc CTCP Thủy sản Minh Phú cho rằng, giữa DN và CTKT đôi khi không có sự thống nhất về một vấn đề. Đơn cử như vấn đề trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. CTKT cho rằng cần trích lập, nhưng DN lại bảo không vì dự đoán giá sẽ lên trong thời gian tới. Trong trường hợp như vậy, CTKT sẽ đưa ra ý kiến ngoại trừ và nói rõ vì sao lại ngoại trừ. Nếu CTKT không được ngoại trừ thì sẽ là một khó khăn đối với họ trong quá trình hành nghề. Bản thân DN cũng có cái khó nếu tuân thủ theo quy định này, vì có những vấn đề đặc thù, DN có những quan điểm khác với CTKT.

Một chuyên gia kiểm toán cho biết, theo Chuẩn mực kiểm toán số 700, căn cứ kết quả kiểm toán, KTV đưa ra một trong các loại ý kiến về BCTC: ý kiến chấp nhận toàn phần; ý kiến chấp nhận từng phần; ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến); ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược). Nếu Luật Kiểm toán độc lập tới đây quy định CTKT không được đưa ra ý kiến ngoại trừ trọng yếu (ý kiến chấp nhận từng phần), CTKT buộc phải đưa ra những ý kiến khác "nặng" hơn (không chấp nhận hoặc ý kiến từ chối) sẽ càng khiến NĐT, người sử dụng báo cáo kiểm toán không yên tâm.

Ông Mai đề xuất, thay vì hạn chế CTKT đưa ra ý kiến ngoại trừ, cơ quan quản lý cần có chế tài đối với các DN niêm yết. Chẳng hạn, những DN có báo cáo kiểm toán bị ngoại trừ không được phát hành cổ phiếu tăng vốn hoặc bao nhiêu năm có báo cáo ngoại trừ sẽ bị hủy niêm yết. Bởi lẽ, chất lượng BCTC kiểm toán ra sao phụ thuộc chủ yếu vào việc các DN cung cấp tài liệu, thông tin, hợp tác với CTKT như thế nào.

(Theo ĐTCK)

Nguồn: www.vacpa.org.vn

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011

Chi phí khấu hao TSCĐ: Sự khác biệt giữa quy định của thuế và kế toán

Chi phí khấu hao TSCĐ:

Sự khác biệt giữa quy định của thuế và kế toán

Th.s Nguyễn Thị Diệu Thu

M

ặc dù chi phí khấu hao TSCĐ là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên chi phí của DN, nhưng sự khác biệt giữa kế toán và thuế đang khiến cho các DN lung túng trong vấn đề ghi nhận chi phí khấu hao TSCĐ.

Chi phí khấu hao TSCĐ không sử dụng cho hoạt động SXKD hàng hóa, dịch vụ.

Theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, mọi TSCĐ hiện có của DN có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh (gồm cả tài sản chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý) đều phải trích khấu hao theo quy định hiện hành. Khấu hao TSCĐ dùng trong sản xuất, kinh doanh trong kỳ; khấu hao TSCĐ chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý hạch toán vào chi phí khác.

Theo quy định của thuế, tại Khoản 2, Điều 9, Phần C, Thông tư số 203/2009TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ, "2. Các khoản chi phí khấu hao TSCĐ quy định tại Điểm 2.2, Mục IV, Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp."

Tại điểm 2.2, Mục IV, Phần C- Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản chi khấu hao TSCĐ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:

"2.2. Chi khấu hao TSCĐ thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Chi khấu hao đối với TSCĐ không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

Riêng TSCĐ phục vụ cho người lao động làm việc tại DN như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do DN đầu tư xây dựng được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế."

Chi phí KH TSCĐ chưa đứng tên sở hữu của DN.

Theo quy định của thuế, Phần C, Mục IV Thông tư 130, điểm b): Chi phí khấu hao đối với TSCĐ không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của DN (trừ TSCĐ thuê mua tài chính) thì không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, chi phí khấu hao đối với TSCĐ không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của DN trong một số trường hợp cụ thể vẫn được ghi nhận vào chi phí của DN.

Ví dụ 1: DN X mua căn hộ để làm văn phòng, nhưng vì lý do nào đó chưa chuyển được tên trong sổ đỏ theo tên DN, nghĩa là DN chưa chứng minh được văn phòng làm việc đã mua thuộc quyền sở hữu của mình. Theo quy định của thuế, chi phí khấu hao văn phòng làm việc đó sẽ không được tính vào chi phí hợp lý của DN. Nhưng trên thực tế, rõ ràng, văn phòng làm việc là thuộc quyền sở hữu của DN, nên theo quy định của kế toán chi phí khấu hao, văn phòng làm việc vẫn được ghi nhận vào chi phí của DN.

Chi phí khấu hao TSCĐ là ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống ứng với nguyên giá trên 1.6 tỷ và TSCĐ là du thuyền, máy bay.

Theo quy định của thuế, Phần C, Mục IV, Thông tư 130, Điểm e, phần trích khấu hao tương ứng với phần nguyên giá vượt trên 1.6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chờ người từ 9 chỗ ngồi trở xuống mới đăng ký sử dụng và hạch toán trích khấu hao TSCĐ từ ngày 1/1/2009 (trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn); phần trích khấu hao đối với TSCĐ là tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch.

Ô tô chở khách từ 9 chỗ ngồi trở xuống chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn là các ô tô được đăng ký kinh doanh có đăng ký một trong các ngành nghề: vận tải hành khách, du lịch, kinh doanh khách sạn.

Tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch là tàu bay dân dụng, du thuyền của các DN đăng ký và hạch toán trích khấu hao TSCĐ nhưng trong Giấy chứng nhận ĐKKD của DN không đăng ký ngành nghề vận tải hàng hóa, vận tải hành khách, du lịch.

Theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, chí phí khấu hao TSCĐ là ô tô vẫn được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ để xác định chi phí kế toán, dù tài sản ấy có trị giá là 2-3 tỷ hay hơn nữa vẫn tính khấu hao cho đối tượng và bộ phận sử dụng tài sản đó.

Đồng thời, tàu bay, du thuyền nếu là tài sản hiện có của DN đều phải trích khấu hao và chi phí khấu hao được ghi nhận bình thường.

Ví dụ 2: Tháng 3/2009, Công ty A mua một chiếc xe 5 chỗ ngồi, trị giá 2,3 tỷ đồng. Thời hạn sử dụng khấu hao TSCĐ do Bộ Tài chính quy định đối với thiết bị phương tiện vận tải đường bộ là 10 năm. Theo đó, mức trích khấu hao trung bình hàng năm là 230 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, theo quy định của Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thì nguyên giá làm cơ sở tính trích khấu hao TSCĐ được trừ chỉ là 1.6 tỷ đồng. Như vậy, DN chỉ được trừ chi phí KHTSCĐ là 160 triệu đồng/năm thay vì 230 triệu đồng/năm. Khoản chi phí chênh lệch 70 triệu đồng phải hạch toán vào thu nhập sau thuế TNDN.

Ví dụ 3: DN B trong năm 2009 có mua 01 chiếc xe ô tô 7 chỗ ngồi giá trị xe là 1,5 tỷ đồng, thuế GTGT là 75 triệu đồng, lệ phí trước bạ và lệ phí đăng ký xe là 100 triệu đồng. Do DN B mua chiếc xe ô tô này bằng tiền mặt mà không thực hiện thanh toán qua ngân hàng nên không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào mà thuế GTGT đầu vào được tính vào nguyên giá TSCĐ. Như vậy, tổng nguyên giá TSCĐ của chiếc xe ô tô lúc này sẽ là 1,675 tỷ đồng (1,5 + 0,075 + 0,1). Vậy, DN B chỉ được trích khấu hao TSCĐ vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế theo nguyên giá của xe với mức khống chế là 1,6 tỷ đồng.

Trên đây là một số điểm khác nhau trong vấn đề ghi nhận chi phí khấu hao TSCĐ giữa kế toán và thuế. Đây cũng là một trong những vấn đề vướng mắc của các DN hiện nay. Nên chăng, phần chi phí khấu hao TSCĐ được kế toán ghi nhận nhưng không được thuế coi là chi phí hợp lý thì trừ thẳng vào phần lợi nhuận sau thuế thu nhập DN. Như vậy, sẽ giúp cho kế toán vẫn xác định đúng chi phí theo quy định của kế toán, còn lợi nhuận chịu thuế thì vẫn được xác định đúng theo quy định của thuế.

Hy vọng, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế sẽ xem xét vấn đề này để có những quy định phù hợp giúp cho các DN nói chung và người làm công tác kế toán nói riêng có được sự thuận lợi trong việc hạch toán nói riêng có được sự thuận lợi trong việc hạch toán chi phí, xác định lợi nhuận chịu thuế. Đồng thời, để trách việc kế toán lách luật thuế, trốn thuế đưa thêm các chi phí vào DN để bù đắp những chi phí của kế toán mà không được thuế ghi nhận. Mặt khác, sự thống nhất giữa kế toán và thuế sẽ giúp cho những người quản lý thuế được thuận lợi hơn trong vấn đề thanh tra, quyết toán thuế./.

(Theo TC Kế toán và Kiểm toán)

Nguồn: www.vacpa.org.vn

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Giá vàng, USD bật tăng sau quyết định điều chỉnh tỷ giá

Giới kinh doanh vàng cho biết, giá vàng tăng mạnh sáng nay chủ yếu là kết quả của việc giá USD tự do tăng cao.

Giá vàng trong nước tăng 150.000-200.000 đồng mỗi lượng, giá USD tự do cũng đội thêm 130 đồng sau khi Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá tham chiếu và thu hẹp biên độ tỷ giá. Trên thị trường thế giới, giá vàng chưa có nhiều thay đổi quanh ngưỡng 1.365 USD/oz.

Từ lúc mở cửa tới hơn 9h sáng nay, giá vàng miếng các thương hiệu đã liên tục được điều chỉnh tăng. Lúc 9h, Công ty Phú Quý tại Hà Nội nâng giá vàng SJC thu mua lên mức 35,95 triệu đồng/lượng và giá bán ra lên mức 36,05 triệu đồng/lượng, tăng tương ứng 200.000 đồng/lượng so với cuối ngày hôm qua. 10 phút sau đó, giá vàng bán ra tại doanh nghiệp này tiếp tục được đẩy lên mức 36,1 triệu đồng/lượng.

Lúc mở cửa, giá vàng SJC do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết cho thị trường Tp.HCM là 35,82 triệu đồng/lượng (mua vào) và 35,89 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 80.000 đồng/lượng so với mức đóng cửa chiều qua. Đến khoảng 9h10, doanh nghiệp này báo giá vàng ở mức 35,9 triệu đồng/lượng và 35,96 triệu đồng/lượng.

Giới kinh doanh vàng cho biết, giá vàng tăng mạnh sáng nay chủ yếu là kết quả của việc giá USD tự do tăng cao, sau quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước, vì giá vàng thế giới đêm qua và sáng nay hầu như không có thay đổi nào đáng kể.

Lúc hơn 9h, nhiều điểm giao dịch ngoại tệ tự do tại Hà Nội thông báo thu mua USD ở mức 21.350 đồng (mua vào) và 21.450 đồng (bán ra), tăng tương ứng 70 đồng và 130 đồng mỗi USD so với sáng qua.

Đầu giờ sáng nay (11/2), Ngân hàng Nhà nước công bố cơ chế điều hành tỷ giá mới.

Theo đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được nâng lên mức 20.693 VND/USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VND trước đó). Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng thu hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1%. Với điều chỉnh trên, mức giá trần bán ra theo biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại ngày 11/2 sẽ ở mức 20.900 VND, mức sàn là 20.486 VND.

Sau khi quyết định trên được đưa ra, Ngân hàng Vietcombank đã nâng giá thu mua USD lên 20.690 đồng, giá bán ra lên mức 20.890 đồng. Tại Ngân hàng Eximbank, giá mua và bán USD cũng được nâng lên tương ứng 20.830 đồng và 20.900 đồng.

Như vậy, giá USD kịch trần tại các ngân hàng thương mại vẫn thấp hơn giá USD ngoài thị trường tự do 550 đồng.

Trong phiên giao dịch đêm qua tại New York, giá vàng giao ngay đã có thời điểm giảm về ngưỡng 1.350 USD/oz sau khi có tin cho thấy, cuộc khủng hoảng chính trị ở Ai Cập sắp được giải quyết. Tuy nhiên, khi chốt phiên, giá vàng chỉ giảm 0,3 USD/oz so với phiên trước, còn 1.364,5 USD/oz, do xuất hiện những lo ngại mới về cuộc khủng hoảng nợ tại khu vực châu Âu.

Tại thị trường châu Á sáng nay, giá vàng dao động yếu quanh ngưỡng 1.365 USD/oz. Ở mức này, giá vàng thế giới quy đổi tương đương khoảng 35,5 triệu đồng/lượng, rẻ hơn giá vàng bán lẻ trong nước 500.000-600.000 đồng/lượng. Ngày hôm qua, mức chênh giá vàng trong nước và thế giới còn là 900.000-1 triệu đồng/lượng.

Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak hôm quy tuyên bố sẽ trao quyền lại cho Phó tổng thống, nhưng sẽ tại vị cho tới thời điểm bầu cử tới.

Trong khi đó, tại châu Âu, lợi suất trái phiếu chính phủ Bồ Đào Nha tăng lên mức cao nhất kể từ khi đồng Euro ra đời vào năm 1999, làm dấy lên những lo ngại nước này sẽ phải cầu viện sự cứu trợ của Liên minh châu Âu (EU), tương tự như những gì Ireland đã làm.

Tuy nhiên, đồng Euro đã mất giá so với USD trước thông tin trên, cản trở sự tăng giá của vàng. Đồng USD còn được hỗ trợ sau khi có thống kê cho thấy số người xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu của Mỹ trong tuần qua giảm mạnh hơn dự báo, xuống mức thấp nhất trong 2 năm rưỡi.

Tỷ giá Euro/USD tại Tokyo sáng nay đứng dưới mức 1,36 USD đổi 1 Euro, từ mức trên 1,37 USD đổi 1 Euro vào sáng qua.

Áp lực giảm giá đối với vàng đang có chiều hướng tăng trở lại khi cuộc khủng hoảng chính trị tại Ai Cập dần tìm ra lối thoát và đồng USD mạnh lên. Quỹ SPDR Gold Trust hôm qua tiếp tục bán vàng ra, với lượng bán 0,9 tấn, giảm khối lượng nắm giữ còn 1.225,5 tấn. Tuy nhiên, nỗi lo lạm phát vẫn được giới phân tích cho là sẽ hỗ trợ cho giá vàng trong dài hạn.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 3 tại New York hôm qua tăng 0,02 USD/thùng, chốt phiên ở mức 86,73 USD/thùng. Lúc 9h45 sáng nay theo giờ Việt Nam, giá dầu tăng gần 0,9 USD/thùng, giao dịch quanh ngưỡng 87,6 USD/thùng.

(Theo Vneconomy)

Tăng tỷ giá USD/VND, rút biên độ

picture

Như vậy những dự tính về điều chỉnh tỷ giá USD/VND thời gian qua đã cụ thể.

Ngân hàng Nhà nước đã chính thức điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND, đồng thời rút biên độ xuống còn +/-1%.

Đầu giờ sáng nay (11/2), Ngân hàng Nhà nước công bố cơ chế điều hành tỷ giá mới.

Thông báo cho biết, thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VND trước đó) và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1% áp dụng cho ngày 11/2/2011.

Với điều chỉnh trên, mức giá trần bán ra theo biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại ngày 11/2 sẽ ở mức 20.900 VND, mức sàn là 20.486 VND.

Một điểm đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết sẽ điều hành tỷ giá bình quân liên ngân hàng tương đối linh hoạt trong thời gian tới, thay vì cố định kéo dài như trong thời gian qua.

“Các biện pháp này sẽ tạo điều kiện để điều hành tỷ giá chủ động, phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ, bảo đảm tăng tính thanh khoản của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn”, Ngân hàng Nhà nước lý giải.

(Theo Vneconomy)

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA BIG 4 TRONG NĂM 2010

TÓM TẮT TỔNG QUÁT Sau một thời gian tăng trưởng doanh thu vượt bậc liên tục từ đầu những năm 2000 đến năm 2008, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 năm 2009 giảm 7% so với năm 2008. Doanh thu quy đổi ra USD của Deloitte giảm -5%, của Ernst & Young và PricewaterhouseCoopers giảm -7%, và của KPMG giảm tới -11%.

Trong năm 2010, tình hình được cải thiện đáng kể, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 đạt 95 tỷ USD, tăng 1,4% so với 94 tỷ USD đạt được năm 2009. Doanh thu quy đổi ra USD giảm -0,9% đối với Ernst & Young, tăng 1,5% đối với PwC, tăng 1,8% đối với Deloitte và 2,6% đối với KPMG, hãng có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhất. Doanh thu của KPMG cũng tăng trong cả ba lĩnh vực hoạt động của mình và thu hẹp khoảng cách về với E&Y. E&Y là hãng duy nhất có doanh thu toàn năm giảm, mặc dù hãng này đã công bố rằng trong sáu tháng cuối năm tài khóa, hãng đã có những tiến triển tính cực, đặc biệt trong lĩnh vực Tư vấn Quản trị Rủi ro va Tư vấn Giao dịch.

Deloitte đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong năm 2010, với mức tăng trưởng 1,8%, đã vượt qua PricewaterhouseCoopers với mức tăng trưởng 1,5% để giành vị trí đứng đầu và trở thành hãng kế toán kiểm toán lớn nhất thế giới. Trong năm 2009, doanh thu của PwC hơn Deloitte một mức rất nhỏ, nhưng doanh thu của Deloitte năm 2010 (26,578 tỷ USD) lại cao hơn doanh thu của PwC năm 2010 (26,569 tỷ USD), một mức nhỏ (9 triệu USD) nhưng là con số rất quan trọng. E&Y chiếm vị trí thứ 3 với doanh thu 21,3 tỷ USD, và KPMG giữ vị trí thứ 4 với doanh thu thấp nhất trong Các hãng Big 4 là 20,6 tỷ USD, nhưng đã thu hẹp được khoảng cách so với E&Y.

Doanh thu

- Năm 2010 đánh dấu sự trở lại của tốc độ tăng trưởng vừa phải đi đôi với sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu.

(Biểu đồ 1)

- Sau khi giảm 7% trong năm 2009, tổng doanh thu của Các hãng Big 4 tăng 1,4% trong năm 2010, nhờ sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu.

- Các hãng kiểm toán lớn này đã công bố một vài con số lớn trong năm 2010, tổng doanh thu của họ là 95 tỷ USD, một con số gây choáng ngợp. (Biểu đồ 1)

- Câu chuyện lớn của năm 2010: Deloitte vượt qua PwC để giành vị trí dẫn đầu và trở thành công ty kiểm toán lớn nhất thế giới. Mức chênh lệch doanh thu - chỉ là 9 triệu USD.

- Tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của tổng doanh thu của Các hãng Big 4 tăng 14% từ 2004 đến 2008 và 8% từ 2004 đến 2010. (Biểu đồ 2)

(Biểu đồ 2)

Tỷ USD

2007

2008

2009

2010

Deloitte

23.1

27.4

26.1

26.6

E&Y

21.1

23.0

21.4

21.2

KPMG

19.8

22.7

20.1

20.7

PwC

25.1

28.2

26.2

26.6

Tổng doanh thu

89.1

101.3

93.8

95.1

Kết quả hoạt động năm 2010

Nhìn chung, kết quả của Các hãng Big 4 đã đạt được mức kỳ vọng. KPMG đã có tốc độ tăng trưởng cao nhất. E&Y là công ty duy nhất có doanh thu bị sụt giảm. (Biểu đồ 3)

(Biểu đồ 3)


* PricewaterhouseCoopers PwC

- Doanh thu PwC tăng 1,5% trong năm 2010, nhưng không đủ để duy trì vị trí là hãng cung cấp dịch vụ chuyên ngành lớn nhất thế giới.

- PwC cho biết sau bước khởi đầu chậm chạp, hoạt động tổng thể đã được cải thiện nhất quán hơn theo tiến trình của năm tài khóa.


* Deloitte

- Deloitte cho biết khối lượng công việc tăng so với năm trước, trong khi mức phí vẫn còn bị hạn chế do các điều kiện kinh tế khó khăn.

- Doanh thu tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương tăng 8.5%. Đây là khu vực có mức tăng trưởng cao nhất trong sáu năm liên tiếp.

- Hoạt động kinh doanh ấn tượng này đã giúp Deloitte vượt qua PwC và trở thành Hãng lớn nhất trên thế giới.


* Ernst & Young

- Ernst & Young là công ty duy nhất có doanh thu giảm từ năm 2009 đến năm 2010

- Doanh thu của Ernst & Young hồi phục trong nửa sau năm 2010, tăng 5,3% tính theo đồng USD.

- Ernst & Young đã thực hiện một thay đổi quan trọng liên quan đến phương pháp báo cáo doanh thu trong năm 2009, thể hiện doanh thu tổng hợp, không phải doanh thu hợp nhất.

- Theo phương pháp hợp nhất năm 2008, doanh thu toàn cầu của Ernst & Young đạt 24.5 tỷ USD và đã được điều chỉnh xuống 23 tỷ USD theo phương pháp lập báo cáo mới.


* KPMG

- Doanh thu của KPMG giảm nhiều nhất từ 2008 đến 2009 và đạt mức tăng trưởng cao nhất từ năm 2009 đến 2010.

- Năm tài khóa của KPMG kết thúc vào tháng 9/2010, và nhờ đó có thêm một vài tháng kinh doanh trong sự tăng trưởng toàn cầu.

- KPMG là công ty duy nhất đã báo cáo tỷ lệ tăng trưởng tích cực của tất cả ba khu vực - Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á.

Doanh thu theo mảng dịch vụ

(Biểu đồ Tăng trưởng doanh

thu hàng năm % theo khu vực)


- Dịch vụ kiểm toán, mảng doanh thu lớn nhất của các hãng, chiếm gần 47% tổng doanh thu, những tỉ lệ này qua các năm đã bị giảm dần.


- Thuế: Doanh thu từ dịch vụ tư vấn thuế, chiếm khoảng 1/4 doanh thu của Các hãng Big 4 và tỷ lệ này ổn định qua các năm.


- Dịch vụ tư vấn: Tỷ lệ doanh thu từ dịch vụ tư vấn tăng. Năm 2004, doanh thu của dịch vụ này chiếm 22% của tổng doanh thu và đã tăng mạnh lên mức 29% trong năm 2010.


- Phân tích cơ hội việc làm:

+ Hơn 610.000 nhân viên đang làm việc cho các hãng Big 4 trên toàn thế giới

+ Trong năm 2010, chúng tôi ước tính chỉ có khoảng 34.000 Partners làm việc tại các hãng của Big 4, với 460.000 chuyên gia

Kết luận:

+ Năm 2010 đánh dấu tốc độ tăng trưởng ổn định trở lại và nền kinh tế vĩ mô toàn cầu vào thời điểm này đang tạo thuận lợi cho Các hãng Big 4.

+ Nửa cuối của năm tài khóa 2010 đã có sự tăng trưởng tốt hơn. Tất cả các hãng đã có những cải tiến mạnh mẽ thông qua nửa cuối năm 2010.

+ Trong năm 2011, chúng tôi nhận định tăng trưởng lợi nhuận của Các hãng Big 4 đều tốt hơn, nhiều khả năng tăng ở mức 4% tới 7%.

+ Đối với năm 2011 và xa hơn nữa, chúng ta có thể thấy một sự tăng trưởng về doanh thu một cách vững chắc, mặc dù người ta vẫn còn tranh cãi về việc liệu một vài năm tới có đạt được một chuỗi tăng trưởng hai con số hay không.

+ 2011 cũng sẽ là một năm thú vị để quan sát bất kỳ thay đổi trong bảng xếp hạng bốn hãng Big 4: PwC liệu có thể giành lại vị trí trước Deloitte hay không, và liệu khoảng cách giữa E&Y, KPMG có thu hẹp hơn nữa không./.

Theo "Phân tích hoạt động của Big 4 trong năm 2010 bởi www.big4.com"

(Trich nguon: www.vacpa.org.vn)